1
Bạn cần hỗ trợ?

Nên học tại Việt Nam hay du học - Kỳ 3: Những lựa chọn trong xu hướng hội nhập hiện nay

Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên chính thức của ASEAN, APEC, ASEM, WTO và TPP. Theo báo cáo của Chính phủ, tính tới cuối năm 2016, nước ta đã ký kết, thực thi, và đang đàm phán tổng cộng tới 16 các hiệp định thương mại tự do (FTA).

 >> Nên chọn học tại Việt Nam hay du học - Kỳ 1: Chơi vơi chọn ngành chọn nghề
 >> Nên chọn học tại Việt Nam hay du học - Kỳ 2: Chọn ngành học đúng chưa đủ
 >> Tặng ngay phí nộp hồ sơ xin Visa khi đăng ký du học Mỹ, Úc, Anh, Canada

1. Xu hướng hội nhập kinh tế và giáo dục

Việc hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng quan hệ thương mại với các quốc gia và các tổ chức là xu hướng tất yếu, một cơ hội thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển. Nhưng bên cạnh đó cũng tạo ra nhiều thách thức trong rất nhiều tất cả các lĩnh vực kinh tế, đời sống và xã hội. 

Quá trình hội nhập ở Việt Nam đã tạo ra nhiều tác động nhiều tới giáo dục. Việc định ra một chiến lược giáo dục tổng thế, đáp ứng những thay đổi mạnh mẽ của thời đại là yêu cầu cấp bách. Giáo dục cần có sự thay đổi nhanh, mạnh về lượng và chất. Khi khoa học công nghệ bùng nổ, đòi hỏi mỗi cá nhân trong hệ thống giáo dục phải trang bị những kiến thức mới, kỹ năng mới, ứng biến phù hợp với sự thay đổi từng ngày từng giờ. Công nghệ thông tin là một công cụ hiện đại có vai trò quyết định và phải được sử dụng phổ biến. Để đáp ứng quá trình toàn cầu, việc sáng tạo tri thức, chuyển giao kiến thức và thông tin phải diễn ra với tốc độ nhanh và quy mô lớn.

Muốn đón đầu xu hướng và đưa ra các chỉ báo giáo dục chính xác hơn, hệ thống giáo dục của chúng ta cần tạo được một mạng lưới liên kết với nền giáo dục khác, với các ngành sản xuất và thị trường lao động trên toàn thế giới. 

Các quốc gia có nền khoa học phát triển, từ nhiều thập niên trước đã tiến hành xem xét lại toàn bộ nền giáo dục của mình và tạo ra một sự thay đổi mang tính bước ngoặt từ dạy kiến thức chuyên môn sang dạy cách tự học. Việc học tập có thể thực hiện ở bất cứ đâu. Triết lý “xã hội học tập” và “học tập suốt đời” hình thành và được duy trì tích cực. Tuy nhiên, kiến thức học tập đòi hỏi phải được ứng dụng thực tế. Họ khuyến khích sự sáng tạo và ưu tiên tính thực tiễn. Đó là những thành quả mà nền giáo dục ở Việt Nam cần kế thừa và phát triển.

Bên cạnh việc đòi hỏi đổi mới tư duy giáo dục thì hệ thống giáo dục cần thay đổi những quan niệm truyền thống đã lạc hậu, chủ động đối thoại với các bền văn hóa của nhân loại để đa dạng hóa các giá trị văn hóa cộng đồng. 

Hội nhập đang đặt ra vấn đề đổi mới giáo dục Việt Nam, đặc biệt là giáo dục đại học.

2. Giáo dục đại học ở Việt Nam có thể hội nhập quốc tế không?

Những năm qua, mặc dù đã có nhiều cải cách và đổi mới nội dung giáo dục ở các cấp học nhưng chưa thực sự có hiệu quả, đặc biệt là giáo dục đại học. Phần lớn chương trình giáo dục chịu ảnh hưởng từ các nước xã hội chủ nghĩa trước đây đã không còn phù hợp trong bối cảnh hiện tại. 

Nội dung kiến thức còn nặng về lý thuyết, không có sự liên kết giữa mục tiêu đào tạo với mục tiêu tìm kiếm việc làm của người học. Chương trình nặng về số lượng và thời lượng. Theo một thống kê năm 2015, trong 4 năm học đại học, sinh viên Việt Nam học 2.138 giờ, sinh viên Mỹ học 1.380 giờ, như vậy chương trình học ở Việt Nam dài gần gấp đôi so với Mỹ. Thời gian học kéo dài nhưng số lượng các môn học cũng nhiều, sinh viên có ít thời gian tự học, tự nghiên cứu hoặc tham gia các hoạt động xã hội. 

Một quan niệm phổ biến của giáo dục bậc đại học là trang bị cho người học càng nhiều kiến thức càng tốt tuy nhiên chưa coi người học là trung tâm. Sự tương tác giữa giảng viên và học sinh, giữa sinh viên với còn hạn chế. Vì thế trong 4 năm học, hầu hết sinh viên không biết cách hoặc chưa có cơ hội hoàn thiện kỹ năng. 

Các trường đại học chưa có sự liên thông kiến thức và chuẩn mực giáo dục với các trường trong nước và quốc tế. Việc chuyển ngành hoặc chuyển trường của sinh còn gặp nhiều khó khăn.

Ở hầu hết các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến, họ có khả năng tạo ra đội ngũ các nhà khoa học đông đảo với các kết quả nghiên cứu được công bố rộng rãi. Ở Việt Nam, số lượng các trung tâm nghiên cứu khá nhiều nhưng số lượng nhà khoa học và các công trình được công bố lại quá ít. Theo thống kê của Viện Thông tin Khoa học (ISI), trong giai đoạn 1996 - 2011, Việt Nam mới có 13.172 công trình khoa học công bố trên các tập san quốc tế có bình duyệt, bằng khoảng 1/5 của Thái Lan (69.637), 1/6 của Malaysia (75.530), và 1/10 của Singapor  (126.881). Trong khi đó, dân số Việt Nam gấp 17 lần dân số Singapor, gấp 3 lần Malaysia và gần gấp rưỡi Thái lan. Các sinh viên không hứng thú tham gia các nghiên cứu khoa học. Các khóa luận tốt nghiệp chỉ là các bài thi bắt buộc họ phải vượt qua. 

Trong khoảng một thập kỷ trở lại đây các trường đại học đã áp dụng phương thức tín chỉ vào giảng dạy. Tuy nhiên, hình thức học “cuốn chiếu” này cũng không làm giảm thời lượng chương trình học, chưa tạo được hứng thú học cho sinh viên.

Chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo không đáp ứng được nhu cầu thực tiễn bởi nhà trường không có sự liên kết với các doanh nghiệp, công ty và thị trường lao động. Hầu hết các doanh nghiệp không hài lòng về chất lượng sinh viên được đào tạo dựa theo các tiêu chí về lý thuyết, kỹ năng thực hành, trình độ ngoại ngữ và tác phong nghề nghiệp.

Thực trạng hiện này là tỷ lệ thất nghiệp ngành càng gia tăng, số lượng sinh viên tốt nghiệp làm trái ngành nghề ngày càng nhiều, sự mất cân đối trong việc cung cầu  của thị trường lao động ngày càng rõ nét. Nhu cầu được học đúng ngành nghề, tìm được công việc tốt là một nhu cầu chính đáng của các bạn trẻ. Nhưng học đại học ở Việt Nam có thực sự là lựa chọn phù hợp trong quá trình hội nhập và phát triển hiện nay?

3. Những sự lựa chọn trong xu hướng hội nhập

Đối với người xưa, thi cử chính là con đường lập thân lập nghiệp. Nhưng ở xã hội hiện đại này, muốn lập thân lập nghiệp thì có vô vàn sự lựa chọn khác nhau. Bạn sẽ rất ngạc nhiên nếu như biết rằng trên thế giới và ở ngay tại Việt Nam, có rất nhiều người thành công và rất nổi tiếng dù không học đại học. Tự kinh doanh, học nghề, đi lao động xuất khẩu, phát triển tài năng và du học là những sự lựa chọn khá phổ biến. 

Trong một số trường hợp đặc biệt, hoàn cảnh gia đình không cho phép tiếp tục việc học thì bạn có thể đi làm thuê ở các nhà máy, các nhà hàng và một số công ty sản xuất. Ở đó họ không đòi hỏi tay nghề cao hoặc sẽ đào tạo tay nghề khi bạn bắt đầu vào làm việc. Hoặc nếu có một khoản tiền tiết kiệm nho nhỏ, bạn hãy tham gia học nghề cắt tóc, pha chế, nấu ăn, làm nail, sửa chữa xe,… Khi mà bằng đại học, cao đẳng đều khó xin việc, thì chứng chỉ nghề của bạn lại là một ưu thế. 

Tự kinh doanh từ những sở trường của bản thân đang rất được các bản trẻ yêu thích. Bạn có thể làm những đồ handmade, có thể chế biến đồ ăn hoặc cắt may quần áo để rao bán trên mạng. Với sự phổ biến rộng rãi của các trang mạng xã hội, đặc biệt là Facebook, bạn có thể bán bất cứ thứ gì bạn muốn. Nếu có nhiều kinh phí hơn, bạn có thể cân nhắc việc thuê một cửa hàng và bày bán những thứ mà thị trường đang cần.

Với thực trạng đáng báo động của bậc học đại học ở Việt Nam hiện nay, thì đi hu học chính là sự lựa chọn tốt nhất để đến với tri thức cho học sinh và sinh viên. Chẳng phải dễ dàng khi bạn đến một đất nước xa lạ, sử dụng một ngôn ngữ khác, sống giữa một nền văn hóa mới lạ, và luôn tìm cách thích nghi với môi trường mới. Nhưng bạn sẽ nhận được những giá trị xứng đáng cho sự nỗ lực của mình. Du học là cách tốt nhất để học và phát triển ngôn ngữ bản xứ. Muốn nói tiếng Anh thì du học nước Anh là một lựa chọn tuyệt vời nhất. Hiện nay khả năng ngoại ngữ là điều kiện cần để bạn có thể ứng tuyển vào bất kỳ vị trí hoặc ngành nghề nào.

Những ngôi trường hiện đại ở Mỹ, New Zealan, Canada, Anh, Úc,... là những môi trường chuyên nghiệp, có sự liên kết chặt chẽ với các công ty quốc tế, tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho sinh viên. Các dự án, chiến dịch hoạt động nhóm của trường sẽ giúp bạn phát triển kỹ năng bản thân, chỉ ra nhiều cách thức giải quyết vấn đề. Khi làm việc nhóm, bạn sẽ hiểu rõ hơn về bản thân mình. Mỗi ngày du học của bạn sẽ là những sự thay đổi và tiến bộ hơn về mặt nhận thức.

Du học sinh ở các quốc gia phát triển luôn có nhiều cơ hội được tuyển dụng cao bởi các tập đoàn hoặc công ty quốc tế. Chỉ cần bạn chứng minh được kiến thức, khả năng hành động, ứng biến với mọi vấn đề thì cơ hội việc làm của bạn đã nằm trong tầm tay. Đây chính là lý do mà ngày càng nhiều bạn trẻ muốn đi du học.

4. Úc không ngừng đổi mới giáo dục để trở thành nền giáo dục hàng đầu

Nền kinh tế Úc mang tính cạnh tranh cao. Những năm gần đây, Úc đang được coi là một nền kinh tế mở nhất trên thế giới và phát triển năng động bậc nhất trong số các nước công nghiệp phát triển. Đặc biệt Úc là một trong số ít quốc gia có nền kinh tế tri thức mạnh với ngành công nghệ thông tin và viễn thông (ICT) làm mũi nhọn.

Tháng 4 năm 2016, Chính phủ đã công bố chiến lược quốc gia về giáo dục đến năm 2025, hệ thống giáo dục sẽ được đổi mới từng ngày để đưa Úc trở thành một nhà lãnh đạo toàn cầu trong giáo dục toàn cầu.

Úc coi phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Khả năng tuyển dụng của sinh viên tốt nghiệp tại nước này sẽ là thước đo thành công đối với mục tiêu trở thành quốc gia dẫn đầu trong giáo dục. Các cơ quan giáo dục và đào tạo có trách nhiệm liên hệ chặt chẽ với các đơn vị tuyển dụng để xây dựng chương trình đào tạo cho sinh viên, được đảm bảo bằng các thỏa thuận thực tập và chế độ vừa học vừa làm. Sinh viên được đảm bảo tiếp cận với nguồn kiến thức hiện đại và có thể ứng dụng ngay vào công việc.

 

Với hơn 22.000 khóa học và trên 1.100 tổ chức giáo dục, Úc được coi là một trong những hệ thống tân tiến và chất lượng nhất với sự đa dạng các bậc học, ngành học. Các trường đại học của Úc liên tục được xếp hạng cao trong đào tạo quốc tế vì thu hút được nhiều sinh viên quốc tế. Mỗi trường có mục tiêu đào tạo riêng, có quyền tự chủ tự quyết về nội dung, phương pháp đào tạo và chế độ cho sinh viên. Vì vậy hàng năm, chính phủ sẽ cấp kinh phí cho các trường tự xây dựng chương trình giảng dạy và phát triển theo các quy định chung của giáo dục quốc gia.

Úc là một điểm đến du học hấp dẫn. Hiện tại, Úc có khoảng 2,5 triệu sinh viên quốc tế theo học, chỉ đứng sau Anh và Mỹ; có khoảng 60.000 sinh viên Việt Nam học tập tại Úc và các cơ sở giáo dục của Úc tại Việt Nam. Kết quả đó có được bởi Úc có nhiều chính sách đặc biệt dành cho sinh viên quốc tế. Chính sách visa SSVF có hiệu lực từ tháng 7 năm 2016 thay thế cho chương trình xét duyệt Visa ưu tiên SVP sẽ đơn giản hóa thủ tục xin Visa du học Úc, mang đến cơ hội cho nhiều sinh viên muốn đến đất nước này du học. Mỗi năm chính phủ dành hơn 200.000.000AUD (đô la Úc) cho học bổng để thu hút nhân tài. Hệ thống pháp luật có các điều luật về dịch vụ giáo dục cho sinh viên quốc tế (ESOS) đảm bảo mọi quyền lợi cho sinh viên quốc tế, hỗ trợ du học sinh trong các trường hợp muốn chuyển ngành hoặc chuyển trường. Du học sinh theo học ở Úc sẽ có văn bằng thuộc Hệ thống văn bằng AQF (Australian Qualifications Framework) do Chính phủ cấp, chất lượng đào tạo cũng như bằng cấp được công nhận ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Úc là quốc gia không ngại đổi mới chính sách giáo dục để thu hút nhân tài. Để đạt được mục tiêu trong chiến lược quốc gia cho giáo dục quốc tế 2025, hệ thống giáo dục Úc đang đổi mới từng ngày, đưa Úc trở thành quốc gia dẫn đầu thế giới về giáo dục, biến Úc thành quốc gia được nhiều sinh viên quốc tế lựa chọn./.

Thạc sĩ Nguyễn Xuân Thời
Chuyên gia tư vấn du học

 

 - Hotline: 1800 6972 (Miễn Phí Cuộc Gọi)
 - Đăng kí thông tin Học Bổng, Du Học các nước:  goo.gl/forms/llkfce1MjZyaZI6p2 

 CÔNG TY DU HỌC UE
 Trụ sở chính

 Địa chỉ: 21 Mai Thị Lựu, P. ĐaKao, Q.1, Tp. Hồ Chí Minh 
 Chi nhánh Quận 1 - Tp. HCM
 
Địa chỉ: 28C Mai Thị Lựu, P. ĐaKao, Q.1, Tp. Hồ Chí Minh
 Chi nhánh Đà Nẵng
 Địa chỉ: 272 Nguyễn Văn Linh, P. Thạc Gián, Q. Thanh Khê, Tp. Đà Nẵng